Trang Nhà Lịch Trình Tu Học Lá Thư Tu Học Kinh Nhạc Thiền

Hình ảnh sinh hoạt Đóng góp Trang bạn Các nhà xuất bản

Lá thư tu học tháng 8 năm 2008
Tăng thân Thuyền Từ vùng Hoa Thịnh Đốn
10413 Adel Road, Oakton, VA 22124

Ngày quán niệm đầu tháng 8 năm 2008

Ngày quán niệm đầu tháng 8 năm 2008 sẽ được tổ chức vào thứ Bẩy 2 tháng 8 từ 9:30 giờ sáng đến 5 giờ chiều tại Unitarian Universalist Congregation of Fairfax (UUCF), 2709 Hunter Mill Road, Oakton, VA 22124. Quý vị có thể vào trang nhà tại http://mpcf.org để xem bản đồ và đường đi tới UUCF. Chương trình tu học trong ngày:

9:30 Tọa thiền, kinh hành, tụng kinh
12:00 Ăn trưa trong im lặng hùng tráng
2:00 Nghỉ trưa
2:30 Nghe băng pháp thoại
3:00 Thiền trà, trao đổi kinh nghiệm tu học
4:45 Tọa thiền
5:00 Chia tay



Tin ngắn:




Sống Chung An Lạc
Nghệ Thuật Xây Dựng Tăng Thân

viết bởi thầy Nhất Hạnh, Lá Bối xuất bản năm 2002. (tiếp theo)

CHƯƠNG MỘT (tiếp theo)
Khả Năng Dựng Tăng


Làm anh nghĩa là sao? Làm anh nghĩa là có khả năng thương yêu dù cho em mình có những khuyết điểm, có những khó khăn. Dù cho nó có nói nặng với mình, dù nó có hiểu lầm mình, có ghét mình, thì mình vẫn tha thứ, vẫn bao dung, mình vẫn có thể hiểu để thương được người em ấy như thường.

Làm sao để thương được người khó thương? Cách duy nhất là quán chiếu để thấy rõ hoàn cảnh của người đó, thấy được những khó khăn mà người đó đang bị kẹt vào. Thấy được vậy, hiểu được vậy thì tự nhiên mình chấp nhận được người đó, và mình có sự thương yêu. Cũng nhờ vậy mà từ từ mình có thể hòa hợp được với người đó, sống vui với người đó, và tạo nên an lạc cho cả tăng chúng. Ngược lại nếu mình sử dụng quyền làm anh, làm chị, làm trụ trì để chỉ la rầy và quở trách thì mình sẽ không thành công trong việc dựng tăng.

Một ví dụ rất nhỏ: nếu thấy sư em của mình mang vớ màu mà mình nói: Em không được mang vớ màu, thầy đã dạy, sao em không biết vâng lời? Thì người em đó, có thể vì đã có nội kết với mình, sẽ mang thêm hai ba đôi vớ màu mè khác nữa! Có thể người sư em không thích vớ màu đến độ đó, nhưng vì vốn không ưa người anh cho nên sư em đã hành động như vậy. Kết quả là một chuyện nhỏ mà đã tạo nên cái không khí ngột ngạt cho cả tăng đoàn! Lý do là sự truyền thông giữa hai anh em rất yếu kém, và vì sư anh không biết sử dụng ái ngữ.

Mình chỉ có thể giúp được em khi mình biết thương nó. Đây là một sự thực tập cần sự kiên trì. Muốn thương mình phải hiểu. Có thể rằng người em không còn đôi vớ sạch nào khác mà hôm nay trời lạnh hơn thường lệ. Nếu không hiểu mà vẫn chỉ dạy thì sự chỉ dạy của mình đã thất bại ngay từ trong trứng nước, vì nó đã được đặt trên một kiến thức sai lầm về người em. Làm chị, làm anh là phải làm thế nào để giữ vững được cái khả năng truyền thông, cái nhịp cầu thông cảm. Khi nhịp cầu thông cảm mất đi thì không ai giúp mình làm được gì nữa cả. Có những lúc sư anh không nói chuyện được với sư em, có những lúc bốn sư em không nói chuyện được vói hai sư chị, nhưng không ai chịu cầu cứu sự giúp đỡ của tăng đoàn. Như vậy là mình đã thất bại trong tư cách của người em, cũng như thất bại trong tư cách của người chị. Đó tuy là những chướng ngại, nhưng đó cũng chính là những cơ hội để cho mình thực tập pháp dựng tăng, để cho mình tu học. Nếu tất cả đều êm ấm, đều dễ dàng, đều thuận hòa, thì mình không thể nào có dịp để thực tập. Không phải chỉ có sư anh, sư chị mới cần thực tập, các sư em lại càng cần phải thực tập nhiều hơn. Nếu mình không thiết lập được sự truyền thông với anh mình, với chị mình, thì mình thất bại trong sự tu tập chuyển hóa của mình. Người anh có trách nhiệm, nhưng người em cũng có trách nhiệm.

Chỉ trong vòng hai hay ba tháng chuyên cần hạ thủ công phu để nhận diện và thực tập là mình đã có thể thiết lập được sự truyền thông với người anh, với người em, với người chị của mình. Nếu mình coi đó là công phu mà mình cần phải hạ thủ trước nhất, thì đích thực mình đang rèn luyện cái khả năng gầy dựng tăng thân của mình.

Chúng ta thấy có những vị cao tăng có tài năng dựng tăng. Họ chỉ cần đến địa phương đó một lần thôi, và tuy ở đó chưa ai biết Phật pháp là gì cả, nhưng chỉ một thời gian sau, đạo tràng được thành lập và đại chúng tụ hội về tu học đông đảo.

Ở Làng Mai chúng ta có danh từ Tăng Nhãn, nghĩa là con mắt tăng, tiếng Phạn có thể dịch là Sangha Kaksu . Mắt tăng là con mắt càng ngày càng sáng, càng ngày càng có từ bi. Có từ bi thì có trí tuệ. Mắt tăng có thể thấy được những ưu điểm, cũng như những khuyết điểm của mỗi chúng ta. Ta phải biết sử dụng mắt tăng, tại vì đó là đôi mắt của ta, chứ không phải mắt của người khác. Mỗi chúng ta đều có ba thân: Phật thân, pháp thân, và tăng thân. Nếu không có ba thân đó thì chúng ta không phải là người tu. Tăng thân là thân của ta, Pháp thân là thân của ta, Phật thân cũng là thân của ta. Ở trong ta, Phật thân, Pháp thân và Tăng thân có thể còn yếu đuối. Ta phải biết sử dụng mắt tăng để làm cho tăng thân ta càng ngày càng lớn mạnh.

Những danh từ tăng thân, tăng lực và tăng nhãn rất hay. Nếu không có tăng thân, chúng ta sẽ bơ vơ, cơ cực, thiếu thốn, và chúng ta không có môi trường của người tu. Tăng thân lớn nhất của chúng ta là tăng thân mười phương. Tăng thân gần gũi nhất là tăng thân mà trong đó ta đang sống chung đời sống hằng ngày. Chúng ta phải tin vào tăng thân, dù tăng thân của chúng ta chưa hoàn hảo. Tăng thân của chúng ta đang đi tới trên đường tu tập, vì vậy tăng nhãn của chúng ta càng ngày càng sáng thêm, và chất liệu từ bi trong cái nhìn của tăng thân càng ngày càng lớn hơn. Ta phải thấy rằng con mắt của tăng thân có thể hướng dẫn ta, và ta là một phần của tăng thân, cho nên chính ta cũng phải đóng góp phần ta vào việc nuôi dưỡng tăng thân của ta.

Mỗi khi tăng thân khen ngợi hay giáo huấn ta, ta phải quỳ xuống, ta phải chắp tay, ta phải nhận chịu tất cả những điều đó, thì ta mới có thể tiến được trên con đường tu học. Ngược lại, nếu ta đưa cái tự ái, cái ngã mạn của mình ra để đối phó thì không bao giờ ta tiến bộ được. Vì vậy ở Làng Mai, chúng ta có phương pháp cầu được soi sáng. Ta cần nghe sự thật, và sự thật đó đôi khi có thể từ một em bé nói ra. Trẻ con thường không biết cân nhắc, rào đón, nên dễ có khả năng nói ra sự thật.

Người sư anh, sư chị, sư em kia, vì lòng thương mà nói ra, nhưng ta có thể tiếp nhận lời đó như một sự chỉ trích, phát khởi từ một thái độ khắt khe. Ta phải thực tập quán chiếu thì mới có khả năng nghe được lời nói của tăng thân. Là anh, ta phải học làm anh. Là em, ta cũng phải học làm em. Học được những điều này thì ta sẽ thành công trên bước đường tu học. Tinh thần này rất gần với tinh thần Chính danh của Khổng Giáo. Anh thì phải đích thực là anh, em cũng phải là em đích thực, chị cũng phải là chị đích thực. Khi mọi người đích thực là mình, thì tăng thân trở nên một môi trường nuôi dưỡng, bảo bọc không những cho mình, mà còn cho biết bao nhiêu người khác đang nương tựa vào tăng thân.

Phương Cách Dựng Tăng

Cái khả năng bao dung, ôm lấy được mọi người trong tăng thân, là đức tính căn bản của người dựng tăng. Có những phần tử tươi mát, có đầy cởi mở, có đầy thiện chí, và có khả năng hiểu được và tiếp nhận được sự xây dựng. Đối với những người đó, công trình xây dựng tăng thân không lấy gì làm khó. Tuy nhiên, trong chúng thế nào cũng có những người khó khăn, có thành kiến, có tập khí sâu dày, không có nhiều khả năng hiểu và tiếp nhận. Với những người đó chúng ta cần có sự kiên nhẫn, cần có thái độ bao dung, cần có khả năng ôm ấp.

Những người dễ thương mà mình thương thì đâu có khó gì, và đâu có phải là một sự thực tập? Người ta đã dễ thương rồi thì mình đâu cần thương nữa, gần người đó mình chỉ thừa hưởng sự dễ thương của người đó mà thôi . Người không dễ thương mà mình thương được thì đó mới là một sự thực tập thương. Thực tập thương ta cần có đức kiên nhẫn và tấm lòng rộng mở. Rộng mở để đừng gạt người đó ra ngoài. Cái khuynh hướng gạt bỏ ấy có mặt trong tất cả chúng ta. Khi thấy một phần tử khó chịu quá, mình thường hay tự nhủ, thôi người này làm khổ chúng nhiều quá, mình phải gạt người này ra ngoài.

Ngày xưa trong tăng đoàn của Bụt cũng vậy, có những phần tử quá khó mà chính Đức Thế Tôn cũng phải đồng ý cho họ rời khỏi tăng đoàn. Bao dung đúng là đức tính căn bản của người dựng tăng. Nhưng chúng ta thử đặt vấn đề: bao dung đến mức độ nào ?

Chúng ta hãy nhớ lại câu chuyện giữa Đức Thế Tôn và vị điều mã sư. Vị điều mã sư đến xin tu học với tư cách một cư sĩ. Một hôm Bụt hỏi ông ta rằng:

- Ông điều phục những con ngựa của ông bằng cách nào? Và đối với những con ngựa chứng thì ông làm sao?

Vị điều mã sư nói:

- Bạch Thế tôn, với những con ngựa dễ dạy con có thể sử dụng những biện pháp ngọt ngào, nhưng với những con ngựa cứng đầu, con phải dùng những biện pháp mạnh, phải dùng roi, phải dùng dây xích, phải trừng phạt, vì nếu dùng sự ngọt ngào thì con sẽ thất bại. Trong đàn cũng có những con ngựa cần cả hai lối đối xử, biện pháp ngọt ngào lẫn biện pháp mạnh. Bạch Đức Thế Tôn, đó là cách con điều phục những con ngựa của con.

Bụt hỏi thêm:

- Nếu cả ba phương pháp đó đều không thành công thì ông phải làm sao?

- Trong trường hợp đó con phải giết con ngựa. Tại vì để nó ở trong đàn nó sẽ là gương xấu và cả đàn ngựa sẽ hư hết.

Nói xong, vị điều mã sư mới nhìn Bụt và hỏi:

- Bạch Thế Tôn, con muốn biết Đức Thế Tôn dạy các thầy và các sư cô bằng phương pháp nào? Và trong trường hợp có những vị khó dạy thì Đức Thế Tôn dùng biện pháp gì?

Bụt trả lời:

- Tôi cũng làm giống như ông vậy. Có những thầy, những sư cô rất dễ dạy, chỉ cần nói ngọt, nói nhẹ nhàng là được, nhưng cũng có những vị cần phải dùng biện pháp mạnh, như biệt trú, sám hối, v.v… Ngoài ra cũng có những vị cần đến cả hai biện pháp.

Lúc đó vị điều mã sư bèn hỏi Bụt câu hỏi mà Ngài đã hỏi ông:

- Bạch Đức Thế Tôn, trong trường hợp không áp dụng được cả ba phương pháp đó đối với một thầy hay một sư cô thì Đức Thế Tôn làm thế nào?

Ngài mỉm cười và bảo:

- Tôi cũng làm giống như ông vậy.

- Làm giống như con là làm sao?

- Tôi cũng phải giết người đó!

- Nhưng tu đạo từ bi thì làm sao Đức Thế Tôn giết được?

Bụt mỉm cười:

- “Giết” ở đây chỉ có nghĩa là không cho ở trong chúng nữa. Nếu không được ở trong tăng đoàn thì coi như về phương diện đời sống tâm linh, người đó đã chết.

Xuất gia là ta bắt đầu sinh ra trong một đời sống tâm linh. Sống trong gia đình của tăng thân ta được bảo vệ, được che chở, được nuôi dưỡng. Nếu bị mời ra khỏi tăng đoàn thì có khác gì mình đã chết trong đời sống tâm linh của mình?

Nhắc lại câu chuyện này là để thấy rằng ngay chính trong tăng đoàn nguyên thủy của Bụt, cũng có những phần tử rất khó dạy. Dù Đức Thế Tôn có thương, tăng đoàn có thương thì người đó cũng bị trục xuất ra khỏi tăng đoàn. Sự có mặt của vị đó trong tăng đoàn không phải là một khuyến khích cho các vị trẻ mà còn tạo ra sự rối loạn và đánh mất rất nhiều sự vững chãi của tăng đoàn. Do đó mà ta phải buộc lòng đưa vị đó ra khỏi tăng đoàn. Làm như vậy không có nghĩa là trừng phạt, mà chỉ vì tăng thân nên đành phải hành động.

Đây không phải là phép hành sử căn cứ trên pháp trị. Trên phương diện hình thức thì đó là pháp trị, tức là giải quyết bằng pháp luật. Đối lại với pháp trị là đức trị, tức là giải quyết bằng tình thương. Tuy vậy tình thương không phải bao giờ cũng ngọt ngào. Khi vị điều mã sư bắt buộc phải dùng roi để đánh một con ngựa thì không có nghĩa là vì giận mà người đó đánh con ngựa. Nếu vì giận mà người đó đánh con ngựa thì ông ta không phải là một vị điều mã sư giỏi. Cũng như làm cha mẹ, khi giận mà đánh con thì chúng ta không phải là cha mẹ giỏi. Ta có thể phạt con để răn dạy, nhưng trong lòng ta có sự đau xót. Con ta phải được giáo dục cho đàng hoàng, vì vậy có khi ta phải rầy la hoặc phải giáo giới nó. Đức Thế Tôn ngày xưa cũng vậy, trong tăng đoàn có những phần tử bất hảo, có những phần tử gây rối loạn, cho nên Ngài buộc lòng phải đưa những người đó ra khỏi tăng đoàn, nhưng trong lòng vẫn có sự đau xót, có sự tội nghiệp. Vì vậy ở đây không phải là vấn đề giận hờn, vấn đề trừng phạt, mà là vấn đề đào tạo, đào tạo trên căn bản của tình thương.

(Còn tiếp)

Trang Nhà Lịch Trình Tu Học Lá Thư Tu Học Kinh Nhạc Thiền

Hình ảnh sinh hoạt Đóng góp Trang bạn Các nhà xuất bản



Mọi ý kiến và đóng góp xin điện thư về webmaster@crpcv.org
Trình bày và thực hiện bởi tăng thân Thuyền Từ vùng Washington DC